Khoa học của đam mê

Vì sao có nhiều người thích thú với công việc của họ trong khi nhiều người khác thì lại không? Sau đây là một bản tổng kết của CliffsNotes khi nghiên cứu khía cạnh khoa học xã hội của hiện tượng này. Để cho bạn một hình dung rõ hơn về những sự thực được phát hiện qua bài nghiên cứu, giờ tôi xin chỉ ra ba trong số những kết luận mà tôi thấy thú vị hơn cả:

Kết luận #1: Đam mê dành cho nghề nghiệp khá là hiếm

Vào năm 2002, một nhóm nghiên cứu được dẫn dắt bởi nhà tâm lý học người Ca-na-da Robert J. Vallerand đã tiến hành một cuộc khảo sát rộng rãi với một nhóm gồm 539 sinh viên đại học ở trong nước. Những mô típ trong bản khảo sát được thiết kế nhằm giúp trả lời hai câu hỏi quan trọng sau đây: Những sinh viên này có đam mê không? Và nếu có, những đam mê ấy là gì?

Và đây là kết quả thu được: 84 phần trăm số sinh viên họ phỏng vấn được xác nhận là có đam mê. Năm loại đam mê được ghi nhận nhiều nhất là: khiêu vũ, khúc côn cầu (xin được nhắc lại, đây là những sinh viên ở Ca-na-da), trượt tuyết, đọc sách, và bơi lội. Dù gắn bó rất sâu sắc với mỗi cá nhân, nhưng những đam mê này không giúp ích gì nhiều khi chọn việc làm. Trên thực tế, chỉ có ít hơn 4 phần trăm tổng số các đam mê được ghi nhận là có đặc điểm liên quan đến làm việc hoặc học hành, trong khi 96 phần trăm còn lại là những đam mê gắn với các sở thích riêng biệt như thể thao và nghệ thuật.

Kết luận #2: Đam mê cần có thời gian để hình thành

Amy Wrzesniewski, một giáo sư trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi có tổ chức ở Đại học Yale, đã từng có giai đoạn hoạt động để tìm hiểu cách thức con người suy nghĩ về công việc của mình. Bài báo về khám phá quan trọng của bà, xuất bản trong Tạp chí về nghiên cứu tính cách khi bà còn đang là nghiên cứu sinh, khảo sát tỉ mỉ sự khác nhau giữa một việc làm, một nghề nghiệp, và một sự nghiệp. Việc làm, theo cách phát biểu của Wrzesniewski, là một hình thức để giúp chi trả tiền phí sinh sống; nghề nghiệp là con đường dẫn tới một công việc tốt đẹp và ý nghĩa hơn; còn sự nghiệp là công việc chiếm một phần quan trọng trong cuộc đời của bạn và là một phần cốt yếu để định nghĩa con người bạn.

Wrzesniewski đã phỏng vấn nhiều người với đủ loại công việc khác nhau, từ bác sĩ tới lập trình viên rồi tới cả nhân viên văn phòng, và nhận thấy rằng đa số mọi người đều chắc chắn khi liên hệ công việc của họ với một trong ba loại hình trên. Có thể giải thích cho việc phân loại này là do có một số nghề nghiệp tốt hơn những nghề khác. Wrzesniewski để ý tới một nhóm những nhân viên làm cùng một vị trí, và tất cả đều đảm đương những trách nhiệm gần như giống hệt nhau: trợ lý điều hành trong trường đại học. Bà cảm thấy thật sự ngạc nhiên, rằng những nhân viên này gần như cân bằng nhau giữa việc nhìn nhận công việc của họ là một việc làm, một nghề nghiệp, hay một sự nghiệp. Nói một cách khác, dường như chỉ loại công việc không thôi thì chưa hẳn đã dự đoán được người ta yêu thích nó như thế nào.

Một số người có thể cho rằng bởi những người ấy có đam mê với môi trường đại học và vì thế họ sẽ yêu công việc của mình, trong khi những người khác có thể chỉ tình cờ làm công việc này vì một vài lí do nào đó, có lẽ là do nó có thu nhập ổn định và đem lại lợi ích suôn sẻ, vậy nên họ sẽ có những trải nghiệm ít hứng khởi hơn. Nhưng Wrzesniewski không dừng lại ở đó. Bà đã phỏng vấn những người trợ lý ấy để tìm hiểu vì sao họ lại có những sự phân biệt trong công việc khác nhau đến vậy, và khám phá ra rằng nguồn dự đoán tốt nhất cho việc một trợ lý nhìn nhận công việc của họ như một sự nghiệp chính là số năm mà họ đã làm công việc ấy. Hay nói cách khác, khi người trợ lý càng có nhiều kinh nghiệm làm việc hơn, thì cô ấy sẽ càng có xu hướng yêu công việc của mình hơn.

Trong nghiên cứu của Wrzesniewski, những nhân viên thỏa mãn nhất, nồng nhiệt nhất không phải là những người đi theo đam mê của mình tiến tới một việc làm nào đó, mà thay vào đấy lại là những con người đã làm việc đủ lâu để trở nên giỏi trong công việc của họ. Ngẫm lại thì, điều này là dễ hiểu. Nếu như bạn đã có nhiều năm kinh nghiệm, thì bạn hẳn đã có thời gian để tiến bộ hơn trong việc làm và hình thành dần cảm giác về tính hiệu quả nó mang lại. Đồng thời bạn cũng có thời gian đủ lâu để phát triển các mối quan hệ gắn bó với đồng nghiệp và được chứng kiến nhiều trường hợp mà ở đó công việc của mình giúp ích cho những người khác.

Kết luận #3: Đam mê là một hiệu ứng phụ của năng lực làm chủ

Không lâu trong bài nói nổi tiếng của mình trên diễn đàn TED, với tiêu đề “Một khía cạnh khoa học bất ngờ về Động lực,” diễn giả Daniel Pink, khi đang bàn luận về cuốn sách “Xu hướng” của mình, nói với các thính giả rằng ông đã dành một vài năm trở lại đó để tìm hiểu về khoa học của động cơ thúc đẩy con người.

“Nếu như bạn nhìn vào khoa học, có một sự bất tương quan giữa những gì khoa học biết và những gì doanh nghiệp làm.” Khi Pink nói về “những gì khoa học biết,” ông có nhắc đến, chủ yếu là, về một hệ thống lý thuyết đã tồn tại bốn mươi năm được biết tới với cái tên “Lý thuyết tự định nghĩa” (TĐN), có thể cho rằng đây là thành quả hiểu biết tốt nhất hiện tại của khoa học giải thích lí do vì sao một số mục tiêu lại có thể thúc đẩy cơ thể chúng ta hoạt động trong khi số khác thì lại không. Lý thuyết trên cho chúng ta biết rằng động cơ thúc đẩy, ở trong môi trường làm việc hay bất cứ đâu khác, đòi hỏi rằng bạn phải đáp ứng được ba nhu cầu tâm lý cơ bản – những yếu tố được miêu tả như “dưỡng chất” cần thiết để tạo cảm giác có động lực từ bên trong khi làm việc:

  • Quyền làm chủ: cảm giác cho thấy rằng bạn có quyền kiểm soát toàn bộ thời gian trong ngày, và việc bạn làm là quan trọng
  • Năng lực: cảm nhận được rằng bạn đang làm tốt công việc của mình
  • Sự liên kết: cảm giác được kết nối với những người khác

Nhu cầu cuối cùng là ít ngạc nhiên nhất: Nếu như bạn cảm thấy gần gũi với mọi người xung quanh trong sở làm việc, bạn nhất định sẽ tận hưởng công việc vui vẻ hơn. Hai nhu cầu đầu tiên mới thực sự là thú vị hơn cả. Có thể thấy rõ ràng, cụ thể là, quyền làm chủ và năng lực có liên quan với nhau.

Trong đa số mọi việc, khi bạn trở nên giỏi hơn trong công việc đang làm, bạn không chỉ cảm nhận được sự thành công đến từ sự làm việc tốt đó, mà điển hình là bạn còn nhận lại được nhiều quyền làm chủ hơn đối với trách nhiệm của mình. Những kết quả này đã góp phần giải thích cho những khám phá của Amy Wrzesniewski: Có lẽ một lí do mà những người trợ lý giàu kinh nghiệm hơn yêu thích công việc của mình là bởi vì cần có nhiều thời gian để hình thành nên năng lực và sự làm chủ giúp phát sinh niềm hứng khởi này.

 

 

Đừng vội lo lắng

Tiến sĩ Gerald Mann, mục sư của nhà thờ Riverbend ở thành phố Austin, thuộc bang Texas, kể lại câu chuyện về một doanh nhân rất thành đạt đã từng gọi điện đến cho ông vào một buổi đêm nọ trong cơn tuyệt vọng. Đó là một người đàn ông hết lòng tận tụy vì gia đình, là người đã từng bắt đầu một công việc kinh doanh nhỏ lẻ và rồi xây dựng thành cả một tập đoàn hợp doanh. Ông ấy đã đóng góp một cách hào phóng cho các quỹ từ thiện và nhân viên của mình dưới hình thức quyền nhận mua cổ phần. Giờ thì ông nói rằng mình sắp sửa bị cáo buộc gian lận thuế vào ngày hôm sau. Ông biết rằng mình vô tội. Nhưng ông không thể nào chịu đựng được nỗi nhục nhã, đau khổ và rối loạn tâm lý mà sự buộc tội vô cớ này có thể đem đến cho gia đình và chính bản thân ông, chưa kể đến hàng ngàn đô-la chi trả cho tiền phí thuê luật sư bảo vệ mình. Lúc ấy ông đang cầm sẵn một khẩu súng và có ý định tự tử. Tiến sĩ Mann đã cố gắng khuyên bảo, nhưng người đàn ông ấy đã mất đi sự kiên nhẫn và sắp sửa cúp máy. Ông ta thật sự đã để tâm trí tập trung vào tình huống tồi tệ nhất có thể xảy ra. Những gì mà ông ta đang tập trung nghĩ đến đã quyết định những gì mà ông tin vào. Và chính cái niềm tin ấy đã làm ông ta không còn quan tâm đến những lời mà tiến sĩ Mann đang nói nữa.

Lời cuối cùng mà Mann đã vội vàng nhấn mạnh trước khi điện thoại ngắt là, “Xin đừng vội lo lắng! Ông đã chờ cho đến khi họ buộc tội ông. Chờ đến khi ông kiếm được luật sự cho mình. Và rồi chờ đợi cho đến khi ông nhận được hóa đơn của anh ta. Chờ đợi cho đến lúc ông bị tuyên bố là có tội. Chờ đợi cả lời kết án. Chờ cho tới lúc cánh cửa xà lim đóng lại nữa. Nhưng giờ làm ơn đừng vội lo lắng, hãy chờ đợi tiếp đi.”

Tất nhiên, người đàn ông này đã bị buộc tội. Ông ta đã phải trả hàng ngàn đô-la lệ phí theo pháp luật, nhưng hai năm sau đó ông đã được hoàn lại tất cả gánh nặng lúc trước. Một thời gian sau, tại một tổ chức quyên góp, người đàn ông tình cờ nhìn thấy Tiến sĩ Mann đi ngang qua cửa phòng, liền chạy theo và nói rằng, “Tôi chỉ muốn nói với ngài rằng chính ba từ trong lời nói của ngài đã cứu lấy cuộc đời tôi. Tôi đã dán chúng ở khắp mọi nơi. Trong xe hơi, trên tủ lạnh, và cả trên bàn làm việc nữa. Khắp mọi nơi trong các văn phòng làm việc.”

Vài từ ngữ mà Tiến sĩ Mann đã nhấn mạnh ngày đó là tất cả những gì cần thiết để giúp người đàn ông ấy đổi hướng tập trung của chính mình. Một khi ông ấy đã thay đổi được tâm điểm trong suy nghĩ, ông có thể đặt niềm tin vào một điều gì đó khác biệt hơn so với những gì mà ông đã tin hoàn toàn trước đó. Nếu như người đàn ông đó tự sát vào buổi đêm hôm ấy, thì ông ta sẽ không bao giờ có thể được chứng kiến việc tên của mình được xóa tội. Tương tự như vậy, trong cuộc sống của mỗi chúng ta, ta không thể nào biết được liệu thành công có đến hay không nếu như không đi đến cùng, khi mà mọi chuyện đã được phơi bày sáng tỏ. Đừng vội lo lắng.

Câu chuyện mà Tiến sĩ Mann đã kể này làm dấy lên một vấn đề vô cùng quan trọng. Ngày càng có nhiều người tính đến việc tự tử trong tiềm thức hơn bao giờ hết. Nếu như bạn đã từng có lúc nghiêm túc nghĩ đến chuyện tự tử, những gì bạn nói ra lúc đó có nghĩa là bạn đã quá mệt mỏi với việc đấu tranh và đối mặt với những sự xung đột mà không thu lại được kết quả gì. Vậy nên bạn biện hộ cho cái suy nghĩ muốn bỏ cuộc của mình bằng cách lựa chọn việc tin rằng không còn bất kỳ hy vọng nào nữa. Thế nhưng có một điều, đó là luôn luôn tồn tại những tia hy vọng. Bạn chỉ việc mở rộng tầm mắt ra và học cách nhìn bằng con mắt của những người hùng. Thế giới cần những tài năng mà bạn phải đóng góp. Không ai có thể đáp ứng được vai trò của bạn trong cuộc sống này ngoài chính bạn. Nếu bạn chấm dứt cuộc đời của mình, bạn sẽ cướp đi từ mọi người những món quà mà chỉ có bạn mới có thể mang đến.

“Không bao giờ từ bỏ. Không bao giờ. Không bao giờ. Không bao giờ. Không bao giờ.”

_ WINSTON CHURCHILL

Câu chuyện của Tiến sĩ Mann cũng đồng thời thể hiện rằng những lời nói của người khác có thể khiến chúng ta thay đổi tiêu điểm trong suy nghĩ. Nếu như những câu từ của người ngoài có thể thay đổi được tâm trí của chúng ta, liệu rằng chính những ngôn từ của chúng ta có thể thay đổi được suy nghĩ của chính mình? Mỗi người đều có khả năng lựa chọn cẩn thận những từ ngữ để thốt lên với bản thân. Nhiều cuốn sách đã được viết về chủ đề này. Bạn có thể chuyển hướng suy nghĩ trọng tâm bằng cách nói hẳn cụ thể ra thành tiếng với chính bản thân mình. Việc nói lên thành lời sẽ giúp ích bởi vì trái lại, nếu như tất cả chỉ là suy nghĩ trong đầu, chúng sẽ trở nên mù mờ và bị lẫn vào với tất cả những suy nghĩ khác của bạn. Những lời nói của bạn có sức mạnh làm thay đổi chiều hướng cuộc sống bằng cách xoay chuyển tâm điểm trong suy nghĩ.

Một trong những câu nói hay nhất mà tôi từng được nghe là “khổ đau chỉ là nhất thời.” Nó vốn dĩ chưa bao giờ ở lại lâu cả. Nếu như bạn đang cảm thấy khổ sở và nản lòng với cuộc đời này, đó có thể là vì bạn đang phải trải qua một bước chuyển tiếp trong cuộc đời của bạn. Giai đoạn chuyển tiếp luôn rất khó khăn. Về mặt định nghĩa, sự chuyển tiếp, hay quá độ, có nghĩa là mọi thứ không còn giống như lúc trước nữa, và bạn sẽ không biết được rằng liệu chúng có trở về như cũ một lúc nào đó hay không. Bạn đã đánh mất điều gì đó mà không gì có thể thay thế được. Nếu như sự chuyển tiếp này gây đau đớn đến một mức độ nhất định, bạn có thể sẽ tự hỏi vì sao mình nên tiếp tục sống như thế này nữa. Bạn sẽ đặt ra câu hỏi rằng, “Còn điều gì là đáng nữa đây?”

Thực tế chỉ ra rằng nỗi sợ hãi và lo âu bạn cảm thấy là điều bình thường, nhưng nó không phải là lí do để bỏ cuộc. Ngược lại, đó là một lí do để bạn thúc đẩy bản thân hướng về phía trước. Đặc điểm của những sự chuyển tiếp là tuy chúng chỉ là tạm thời, nhưng khi bạn đang ở trong giai đoạn ấy, chúng cứ như kéo dài vô cùng tận vậy. Nếu bạn nỗ lực đủ lâu, bạn sẽ vượt qua được tất cả.

Đa số những người phụ nữ đã từng sinh con đều biết rằng phần tồi tệ nhất khi đau đẻ là cái giai đoạn “chuyển tiếp” ấy. Đây là thời khắc trong quá trình sinh đẻ mà người phụ nữ phải chịu đựng nỗi đau khủng khiếp nhất mà họ từng trải qua trong cuộc đời. Đây là thời khắc trong quá trình sinh đẻ mà đa số những người phụ nữ phải gào thét, đòi thuốc gây mê, nguyền rủa người chồng của mình, và thề rằng họ không thể nào chịu đựng thêm được nữa. Đây cũng chính là thời khắc quan trọng nhất trước khi đứa bé được chào đời. Khi đứa trẻ được sinh ra và được đặt nhẹ nhàng vào vòng tay của người mẹ, những giọt nước mắt của nỗi đau đớn biến thành những giọt nước mắt của niềm hạnh phúc, vui sướng.

“Cho dù bạn có lựa chọn thay đổi hay không, thì luôn có những tiềm năng ẩn chứa bên trong con người bạn, những mối quan tâm và những tài năng mà bạn vẫn chưa bộc lộ. Những sự chuyển tiếp dọn đường cho sự trưởng thành. Chúng hạ bức màn xuống sân khấu để chuẩn bị mở ra một khung cảnh mới. Vậy thì, tại thời điểm này trong cuộc đời bạn, điều gì đang nằm ở phía hậu trường kia và lặng lẽ chờ đợi một ám hiệu mở màn?” 

_ WILLIAM BRIDGES

Đôi khi, mục đích quan trọng nhất và cao quý nhất trong cuộc đời của chúng ta không thể được nhận ra cho đến khi chúng ta trải qua một quãng thời gian vô cùng khó khăn trong cuộc đời. Nhưng đây là cách mà cuộc sống đúc khuôn cho mỗi con người chúng ta để có thể bước sang giai đoạn tiếp theo của cuộc đời. Chúng ta phải bị dập khuôn và nhào nặn thành hình ảnh con người mà ta cần phải trở thành. Nếu như đất sét có cảm xúc, bạn nghĩ nó sẽ có cảm nhận thế nào khi bị rập mạnh xuống bàn, nện, đẩy đi mọi hướng, xoay tròn vòng quanh liên tục trong khi được cho vào trong một cái hũ, và đặt vào lò nung để hóa cứng? Nếu như đất sét có thể nói được, thì liệu nó có nguyền rủa thành lời không? Liệu nó có đổ lỗi cho những sự vật khác không? Liệu nó có cố gắng thoát khỏi cái bàn quay không? Bạn sẽ cảm thấy ra sao nếu như bạn là khối đất sét ấy? Bạn có nổi giận với người thợ gốm không? Quá trình chuyển tiếp thường rất đau đớn, dễ nản lòng và rối loạn. Chúng ta thốt lên những lời nguyền rủa. Chúng ta đổ lỗi cho những người khác. Chúng ta chỉ muốn từ bỏ. Nhưng chiến thắng luôn nằm ở đằng sau mỗi sự chuyển tiếp – nếu như bạn lựa chọn tập trung vào nó và tin tưởng nó. Luôn luôn có những điều tốt đẹp hơn ở phía bên kia con đường.

Những hòn đá lớn

Lúc ấy tôi đang trong kì nghỉ mát với vợ và các con của mình ở Ph’lo-ri-đa, và khi đang ngồi bên rìa hồ nước ngắm nhìn lũ trẻ bơi lội, tôi chợt nghĩ rằng thật hạnh phúc làm sao khi chúng tôi được tận hưởng khoảng thời gian tuyệt vời bên nhau như thế này. Trong lúc suy ngẫm về tầm quan trọng của “khoảnh khắc gia đình,” tôi bỗng nhớ lại câu chuyện của Tiến sĩ Stephen Covey về “những hòn đá lớn”. Sau đây là nội dung câu chuyện, mà Covey đã kể trong cuốn sách của ông, Tư duy tối ưu:

Trong một cuộc hội thảo chuyên đề về kĩ năng quản lý thời gian, một giảng viên quyết định đặt một câu hỏi cho các học viên của mình. Đưa tay xuống dưới mặt bàn, ông lấy ra một cái hũ miệng rộng, dung tích khoảng 3,5 đến 4 lít và đặt nó lên bàn, bên cạnh một cái đĩa chứa đầy những hòn đá kích cỡ nắm tay. “Các bạn nghĩ chúng ta có thể cho được bao nhiêu hòn đá như thế này vào trong hũ?”

Sau khi các sinh viên đưa ra những phỏng đoán của mình, người chủ trì hội thảo nói, “Được rồi, giờ ta sẽ cùng xem nhé.” Ông đặt một hòn đá vào trong cái hũ, rồi thêm một hòn nữa, một hòn nữa – cho tới khi không còn hòn đá nào có thể bỏ vào tiếp. Và rồi ông hỏi, “Cái hũ đã đầy chưa?”

Tất cả mọi người đều có thể thấy rằng không một hòn đá nào có thể cho thêm vào hũ được nữa, nên cùng trả lời rằng, “Rồi ạ.” “Không nhanh vậy đâu,” vị giảng viên nhắc nhở. Từ dưới bàn ông lấy ra một cái xô đựng sỏi, đổ vào trong hũ, và lắc nó. Những viên sỏi lọt hết vào những khoảng trống nhỏ giữa các hòn đá to. Mỉm cười, ông hỏi thêm lần nữa, “Cái hũ đã đầy chưa?”

Tinh ý hơn một chút, các sinh viên đáp lại, “Có thể là chưa ạ.” “Tốt lắm,” vị giảng viên nói. Rồi ông lấy thêm ra từ dưới bàn một chiếc xô đựng cát. Và ông lại đổ chúng vào trong cái hũ. Trong khi các học viên quan sát, chỗ cát ấy lấp hết vào những khoảng trống giữa những hòn đá và những viên sỏi. Một lần nữa ông lại nhìn về phía lớp học và hỏi rằng, “Giờ thì cái hũ đã đầy chưa vậy?”

“Chưa ạ!” mọi người đồng thanh trả lời to. “Rất tốt!” người chủ trì hội thảo nói, rồi ông cầm lấy một cái bình rót nước và bắt đầu đổ vào bên trong chiếc hũ. Sau khi đổ được khoảng 1 lít nước, ông nói, “Thưa quý vị, giờ thì cái hũ đã đầy rồi. Liệu ai có thể cho tôi biết bài học mà các bạn rút ra được không?”

Một sinh viên hăm hở liền trả lời ngay: “Đó là, chúng ta đều có những khoảng trống trong thời gian biểu của mình. Nếu thật sự chú tâm vào, thì ta luôn có thể làm được nhiều việc hơn nữa trong cuộc sống.” “Không phải,” người giảng viên nói. “Đó không phải là điểm quan trọng. Điểm cốt yếu ở đây chính là: nếu như tôi không đặt những hòn đá lớn kia vào trước, thì tôi sẽ chẳng bao giờ có thể cho thêm những thứ khác vào trong được nữa.”

 

Những ranh giới đã trở nên mập mờ

Tiếp tục với phép ẩn dụ của Tiến sĩ Covey, tất cả chúng ta đều có những hòn đá lớn, sỏi, cát, và nước trong cuộc sống của mình. Khuynh hướng tự nhiên của mọi người dường như ưu tiên sỏi, cát, và nước hơn, chỉ để lại những khoảng không ít ỏi cho những hòn đá lớn. Trong khi nỗ lực cho những điều “cấp bách”, những thứ “quan trọng” lại thường bị người ta bỏ sang một bên.

Có thể chắc chắn được rằng, việc tạo ra một cuộc sống cân bằng giờ đã trở nên thách thức hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại. Càng lúc càng có nhiều nhu cầu hơn vào thời gian của chúng ta, và ranh giới giữa công việc và đời sống riêng tư đã phai mờ. Một phần của khó khăn này có thể là do cách mà chúng ta sử dụng đồ dùng công nghệ. Những thiết bị như điện thoại di động và máy tính xách tay rõ ràng đem lại cho con người nhiều sự linh hoạt hơn. Giờ đây bạn đã có thể rời khỏi sở làm việc sớm hơn một chút để đến tham dự đại hội thể thao của con mình, bởi vì bạn có thể trò chuyện với khách hàng của mình trên đường đến cuộc thi đấu.

Nhưng công nghệ cũng có thể đã trói buộc chúng ta vào công việc của chính mình. Đã bao nhiêu lần bạn trông thấy một người mẹ nào đó đang ngồi làm việc trên chiếc máy tính xách tay trong khi bạn đang xem trận thi đấu bóng rổ của con trai mình, hoặc một người bố đang nói chuyện trên điện thoại di động trong lúc đang ăn tối với gia đình tại một nhà hàng địa phương? Đã bao nhiêu lần bạn làm những việc như vậy? Tuy nhiên, công nghệ không phải là thủ phạm duy nhất. Đối với nhiều người, công việc đã trở thành “những hòn đá lớn,”  chỉ để lại không gian ít ỏi cho những khía cạnh khác trong cuộc sống – gia đình, bạn bè, sức khỏe, và cả hạnh phúc của họ nữa.

Sở dĩ điều này đang xảy ra là vì một vài lí do sau đây:

  • Khi mà nguồn nhân lực bị cắt giảm nhưng khối lượng công việc vẫn giữ nguyên, các nhân viên làm việc một cách điên cuồng chỉ để theo kịp tiến độ và giữ được việc làm. Khoảng thời gian làm việc truyền thống 8 tiếng mỗi ngày đã là dĩ vãng, thế nên mọi người đều gặp khó khăn trong việc đặt ra giới hạn cho công việc của mình.
  • Công việc đem lại cảm giác thỏa mãn khi được vượt qua thử thách và gặt hái thành quả. Cấu trúc của công việc, hệ thống phản hồi rõ ràng, và khả năng “đạt được thứ gì đó” thường bị thiếu thốn khi ở nhà. Ví dụ như, nếu bạn bán được một số lượng hàng hóa lớn trong công ty, có khả năng bạn sẽ được tuyên dương, sẽ kiếm được thêm tiền, và thậm chí có thể được thăng chức nữa. Bên cạnh đó, việc dành một buổi chiều ở bãi biển với gia đình có thể sẽ không đem lại được sự công nhận như vậy. “Thành tựu” không còn là hiển nhiên nữa, và những phần thưởng cũng không rõ ràng và cụ thể bằng.
  • Những ranh giới đã trở nên mờ nhạt, và giờ thì làm việc ở nhà, và vui chơi ở sở làm đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Vấn đề ở đây chính là, cái sự thiếu phân biệt này, hay sự thiếu “cân bằng,”  hủy hoại chất lượng của cuộc sống ở cả hai bên. Kết quả không may mắn là những vấn đề trong gia đình trở nên khó giải quyết hơn, và bạn có nguy cơ vì sự thành công trong công việc mà đánh đổi bằng chính giá trị của cuộc sống bên những con người quan trọng nhất trong cuộc đời bạn.

Một người đã từng quan sát thấy rằng, “Không có ai trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình ước rằng họ có nhiều thời gian ở sở làm việc hơn.” Không may thay, thường phải đến khi con người ta trải nghiệm giây phút cuối đời (hoặc điều gì đó tương tự) thì mới nhận thức được điều này.

 

Đạt được sự cân bằng

Đạt được sự cân bằng trong cuộc sống đòi hỏi sự nỗ lực và tận tâm chân thành. Đầu tiên bạn phải ý thức được thời gian biểu dành cho bản thân, gia đình, và bạn bè của mình. Bạn có thể sẽ phải đối mặt với cảm giác thúc giục muốn làm gì đó “quan trọng hơn”. Đối vời một số người, “thời gian riêng tư” chỉ là một thứ gì đó vô tích sự. Nhưng trên thực tế, dành thời gian cho những người bạn yêu thương là cách tốt nhất để đem lại ảnh hưởng sâu sắc đối với họ – và đối với thể giới này nữa.

Để có thể giúp cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn thì không có gì tốt hơn việc truyền đi những giá trị và sự nguyên vẹn của bản thân đến con cái, bạn bè, đồng nghiệp, và những người quan trọng khác đối với bạn. Nhìn theo góc độ tổng quan, điều này quan trọng hơn vô vàn lần so với những thứ mà bạn có thể làm khi ở công sở.

Và có lẽ bạn sẽ không nhận được những sự tán dương tức thì, nhưng sau tất cả cuộc sống của bạn sẽ trở nên thỏa mãn hơn rất nhiều nếu bạn nuôi dưỡng những mối quan hệ ý nghĩa với những người xung quanh mình.

Mối tình ở Bốt-xtơn

Cô gặp tôi vào một ngày khi tôi đang học năm thứ hai ở Đại học Bốt-xtơn. Tôi đang ngồi trên một chiếc ghế dài ở sân trường, ủ rũ nhìn vào những cái vỏ trứng từ bữa ăn duy nhất trong ngày – một quả trứng luộc chín. Tôi đã nghiền nát những cái vỏ ấy bằng ngón tay và làm vỡ chúng thành những mảnh nhỏ nhất có thể. Tại sao tôi lại làm vậy à? Tôi đã đọc được ở đâu đó có nói rằng vỏ trứng là một nguồn cung cấp can-xi tốt thì phải. Tôi thì không quan tâm lắm về can-xi ra sao; với tôi, điều đó đơn giản có nghĩa là vỏ trứng cũng là thức ăn. Thà có thứ gì đó để nhai trong miệng còn hơn không có gì.

Tôi đút vài mảnh vỏ trứng vào miệng, không chú ý gì đến những cái nhìn chằm chằm tò mò từ những người đi qua. Không chỉ vậy, tôi còn không nhận ra có một người phụ nữ xinh đẹp ngồi xuống cạnh mình. Cái mũi của tôi chỉ hướng tới mùi vị của thức ăn. Nó bỏ qua cả mùi hương nước hoa ngọt ngào đột ngột lan tỏa khắp không gian.

Cô vỗ nhẹ nhàng vào vai tôi. Tôi chả hề bận tâm quay sang nhìn. Toàn bộ con tim và tâm trí tôi quá tập trung vào việc thưởng thức những mảnh vỏ trứng đến nỗi tưởng nhầm cái chạm nhẹ ấy là những cái lá rơi rụng, và tôi cứ thế gạt những ngón tay của cô ra khỏi vai mình. Nhưng cô không dừng lại ở đó. Cô lại chạm vào vai tôi lần nữa, và lần này vỗ mạnh hơn để làm tôi chú ý. Nhưng không phải do những cái vỗ vai ấy làm tôi chú tâm. Mà đó là do mùi vị của cá ngừ. Thức ăn sao! Tôi quay sang ngay lập tức.

Khuôn mặt tôi rạng ngời hẳn lên khi thấy một cô gái trạc tuổi đưa một chiếc bánh kẹp cá ngừ cho mình. Tôi mở miệng cười toe toét. Đa số đàn ông đều sẽ cảm thấy hạnh phúc khi thấy một người phụ nữ  đẹp ngồi cạnh họ, nhưng với tôi thì thấy một chiếc bánh kẹp đã là quá đủ rồi. Cơn đói đã làm bản thân quên đi hết phép lịch sự, và tôi đưa tay ra cầm lấy cái bánh luôn. Không một chút do dự, tôi ăn ngấu nghiến nó. Cái bánh hết sạch chỉ sau vài phút là cùng. Những phần vỏ trứng còn sót lại đã rơi xuống đất và bị bỏ quên từ lúc nào. Sau khi nuốt trọn miếng cuối cùng của chiếc bánh xăng-uých, tôi quay sang nhìn cô gái đang ngồi bên cạnh mình. Cô đang nhìn chằm chằm vào tôi với vẻ hơi sửng sốt. Cô thậm chí còn chưa cắn miếng nào từ chiếc bánh của mình.

Một cách từ tốn, cô tự giới thiệu bản thân mình. Giọng nói của cô vang lên như một bản nhạc du dương từ thiên đàng. Nhưng khi đến lượt mình mở miệng, tôi hầu như chả nói được từ nào. Tệ hơn, giọng tôi nói nghe như con ếch ộp đang kêu vậy. Thay vì ngồi lại để trò chuyện, tôi cảm ơn cô vì sự tử tế và nhanh chóng rời đi ngay.

Tôi cứ nghĩ mọi chuyện đến đó là kết thúc. Nhưng tôi đã sai. Ngày hôm sau đó, khi tôi lại đang ngồi ở chiếc ghế dài với quả trứng luộc thì cô xuất hiện ở bên cạnh. Một lần nữa, cô lại đưa ra một cái bánh xăng-uých. Và một lần nữa, tôi lại cầm lấy nó. Đó là một chiếc bánh kẹp phô mai. Nhưng, lần này, tôi không ăn ngấu nghiến nó như lúc trước nữa. Tôi cắn một miếng nhỏ và nhai chầm chậm, đồng thời quay sang nhìn chằm chằm vào thiên thần đang ngồi ngay cạnh mình. Tại sao cô ấy lại tốt với mình như vậy chứ? Tại sao cô ấy lại muốn ngồi cạnh một cái tên ăn mặc không đâu vào đâu như thế này? Kí ức về sự phản bội hằn sâu trong tim tôi tới giờ vẫn còn đau nhói. Nó đã dạy cho tôi phải biết nghi ngờ bất cứ khi nào được đối xử tử tế dù chỉ một chút. Tôi không hề biết tình yêu có nghĩa là gì. Tôi đã không hề biết rằng ở nó không hề tồn tại hai từ “tại sao”.

Chúng tôi bắt đầu nói chuyện với nhau. Hoặc đúng hơn là, cô ấy nói. Tôi vẫn đang gặp khó khăn trong việc xâu chuỗi các lời nói của mình với nhau, và từ ngữ thì cứ phát ra từ miệng một cách vụng về. Cổ họng tôi như thắt chặt lại. Đầu óc tôi trở nên trống rỗng mỗi khi đến lượt mình nói một điều gì đó. Vì thế nên tôi đơn thuần chỉ biết gật đầu và mỉm cười. Tôi chắc hẳn phải trông như thằng ngu ngốc nhất trên cái địa cầu này mất thôi. Nhưng cô vẫn tiếp tục trò chuyện với tôi, kèm theo một nụ cười ngọt ngào trên khuôn mặt. Tôi chỉ biết lắng nghe trong sự kinh ngạc. Tôi đã nghĩ môn Toán thật tồi tệ. Giờ thì nói chuyện với một người con gái còn tệ hơn. Ít nhất thì môn Toán còn có sách giáo khoa kèm theo. Và nếu một cuốn sách là chưa đủ, thì sẽ có nhiều cuốn khác để lựa chọn. Còn cô gái ngồi cạnh tôi thì không hề đi kèm theo một thứ gì ngoài những chiếc bánh kẹp cả. Những cái bánh đều ngon hết, nhưng chúng chả chỉ cho tôi biết thêm điều gì.

Thông qua những chiếc bánh kẹp mà chúng tôi đã dần dần biết thêm về nhau hơn. Không hề có những bông hoa hồng hay những buổi hẹn ăn tối đắt tiền – chỉ có xăng-uých. Tôi không hề cố gắng quá sức để làm say mê hoặc gây ấn tượng với cô. Đa phần đàn ông đều nói những lời ngọt ngào với người phụ nữ mà họ thích. Tôi thì chỉ bắt đầu biết trò chuyện sau khi đã ăn bánh của cô ấy đến lần thứ năm hoặc sáu gì đó. Nhưng điều ấy dường như không hề làm cô bận tâm.

Những chiếc bánh xăng-uých chỉ là điểm khởi đầu. Đó là phần ngon lành. Khi chúng tôi bắt đầu hẹn hò, cô đã đến với tôi trong một cuộc sống đầy gian khổ. Nó thua xa so với vị ngon kia; nó hoàn toàn hết sức cay đắng. Và cô ấy đã không hề bỏ cuộc lần nào. Trong những bữa ăn, cô san sẻ cho tôi vài phần cơm của mình. Cô ấy có thể nghe thấy rõ tiếng bụng tôi sôi ùng ục vào buổi đêm vì quá đói. Vào thời điếm đó, tôi nặng phải ít nhất 90 kí nhờ việc tập thể hình cường độ lớn mà tôi đã theo đuổi từ hồi 15 tuổi – gần như gấp 3 lần trọng lượng của cô. Vậy mà mỗi người chỉ ăn có một bát cơm nhỏ mỗi bữa. Đó là tất cả những gì mà chúng tôi có thể tự cấp để sinh sống. Chúng tôi nghiêm khắc hạn chế bất kỳ một bao gạo nào để nó có thể sử dụng kéo dài được trong một tháng. Thay vì việc yêu cầu tăng thêm việc chi tiêu, cô ấy chỉ lặng lẽ chia cho tôi thêm nhiều cơm hơn. Cô làm điều đó một cách từ từ. Trong tuần đầu tiên, cô cho tôi nhiều hơn một thìa cơm so với phần của cô. Vào tuần thứ hai, cô cho tôi nhiều hơn hai thìa cơm. Tôi gần như không hề nhận ra cho đến một ngày, tôi nhìn xuống bát của mình rồi liếc nhìn sang của cô và thấy cô chỉ có phần cơm bằng một nửa phần của mình. Bao lâu nay, cô đã luôn lặng lẽ hy sinh phần ăn của mình để chia cho tôi thêm nhiều hơn. Nước mắt tôi tuôn trào ra. Ngoại trừ gia đình mình, chưa từng có ai đối xử như vậy với tôi bao giờ hết. Không có ai nghĩ rằng tôi có đủ giá trị để đáng được như thế. Buổi đêm hôm đó, tôi đẩy bát của mình sang bên cạnh và dành tất cả phần cơm cho cô. Tôi không cần phải ăn nữa. Tôi không muốn ăn. Ý nghĩ rằng có một người yêu thương mình đến mức hy sinh nhu cầu của bản thân cho mình là quá đủ để khiến tôi thấy no và ấm áp. Buổi đêm hôm đó, tôi không hề ăn gì cả. Nhưng tôi đã được nếm hương vị của tình yêu.

***

Đây chỉ là một vài câu chuyện về những gì mà tôi và vợ mình đã cùng nhau trải qua. Chúng có nghe giống một câu chuyện tình ở Disney không? Ừ thì, có lẽ vậy. Nhưng có một điều chắc chắn ở đây – nó không bắt đầu bằng một khung cảnh lãng mạn với hình ảnh một que diêm được đốt sáng nơi thiên đường.

Đừng hiểu lầm tôi; với vợ tôi nó không hề chỉ giống như một cuộc đi dạo trong công viên đâu. Đối với cô ấy, nó giống như leo lên Đỉnh núi Ê-vơ-rét mà không có giày. Nó giống như vượt qua Sa mạc Sa-ha-ra mà không có nước. Nó giống như đi đến Bắc Cực mà không có áo rét vậy. Nhưng bạn biết không? Cô ấy vẫn làm. Cô không phải là một nữ chúa chiến binh. Cô chỉ là một con người bình thường như bạn và tôi. Tất cả những gì bạn cần làm là đi đến tận sâu thẳm trong trái tim mình và tận dụng nguồn sức mạnh của nghị lực con người.

Hãy tin vào tình yêu. Hãy chờ đợi nó. Kể cả nếu bạn không nhìn thấy nó lúc đầu, hãy tiếp tục đợi. Nếu trái tim đã tan vỡ vẫn có thể yêu, thì những trái tim cô đơn vẫn có thể tìm được tình yêu. Hãy chờ đợi, và tin tưởng. Tình yêu của bạn ở ngay ngoài kia thôi.